THIÊN TAI CHỒNG THIÊN TAI: Khi nào mới ngưng đổ lỗi cho thiên nhiên?
Có phước giành nhau hưởng, nhưng có hoạ lại trách mẹ thiên nhiên?
Chỉ trong 9 tháng đầu năm, Việt Nam đã đón tổng cộng 6 cơn bão liên tiếp. Lũ chồng lũ, bão chồng bão, sạt lở, ngập lụt, sụt lún và xói mòn đua nhau đổ về các tỉnh miền Trung, miền Bắc và miền Tây Nam bộ. Chưa dừng lại, Việt Nam tiếp tục đón cơn bão lịch sử Kalmaegi – cơn bão đã làm hơn 66 người chết ở Philippines.
Nhìn lại hai cơn bão số 10 và 11 gần đây, nhiều tỉnh thành miền Bắc, Trung và cả Tây Nam Bộ, Việt Nam vẫn đang oằn mình chống chọi và khắc phục thiệt hại sau bão. Còn báo chí vẫn bài ca thán cũ: thay vì nghiêm túc đánh giá và rút kinh nghiệm từ các đợt lũ trước, hoặc kêu gọi ngăn chặn biến đổi khí hậu trở nên nặng nề hơn, họ lại vẫn chọn “đổ lỗi cho thiên nhiên”.
Mẹ thiên nhiên: “Lào gì cũng tôn!”
Nực cười hơn, khi các tập đoàn hăng say chặt phá cây rừng làm khu resort 5 sao, khi công ty tư nhân tha hồ chặn nước sông xây đập thuỷ điện làm thay đổi dòng chảy, khi đồi núi bị đào khoét nham nhở để khai thác khoáng sản, khi biển bị lấp đi để xây khu đô thị, thì người người tung hô “phát triển quá, hiện đại quá”.
Ai lên án phê bình thì bị nhận xét “dân đen chỉ nghĩ tới đó”. Để rồi, khi bão lũ, thiên tai ập đến vì đại dương cứ ngày càng nóng lên, khí hậu cứ ngày một khắc nghiệt thì lại trách “mẹ thiên nhiên vì sao tàn khốc?”
Thực tế, thiên tai không một mình “hại người”, không một mình phá hoại đường xá, nhà cửa, vườn tược, cuốn trôi núi đồi hay đất đai mà chính con người cũng góp phần NHIỀU trong đó.
Chúng ta hãy cùng nhìn lại trường hợp của tỉnh Thái Nguyên để làm ví dụ.
Từ một vùng “tránh lũ”, năm nay, Thái Nguyên trở thành một trong những tỉnh bị ảnh hưởng lớn nhất bởi 2 cơn bão liên tiếp. Toàn tỉnh có 7 người thiệt mạng, mất điện diện rộng, hơn 70 nghìn nhà bị ngập, sụt lún, nứt nẻ. Nhiều người dân thậm chí phải bắn pháo sáng S.O.S để ra tín hiệu cầu cứu vì bị nước lũ bao vây, cô lập.
Để hiểu được gốc rễ vấn đề lũ lụt và thiên tai ở Thái Nguyên, chúng ta phải nhìn lại cả lịch sử khai thác rừng, trồng rừng và quy hoạch đô thị, khai thác khoáng sản của toàn bộ khu vực.

Đầu tiên, Thái Nguyên vốn là một vùng trung du với địa hình bán sơn địa, có cả đồi núi lẫn đồng bằng. Dù trước đây ít khi xảy ra ngập lụt nặng, nhưng trong hoàn lưu bão số 10 - 11, mưa trút thẳng xuống vùng hạ du “lòng chảo” của Thái Nguyên đã làm khu vực này lũ lụt nặng nề.
Nhưng mưa lớn kỷ lục chưa đủ để làm Thái Nguyên ngập lịch sử như năm nay.
Theo báo cáo tỉnh, tính đến 2030, tỷ lệ che phủ rừng của Thái Nguyên đạt từ 46% - 62,3% – điều này lẽ ra phải giúp cho Thái Nguyên ít gặp lũ lụt và sạt lở đất hơn do rừng giữ đất và giữ nước, đúng không? Tuy nhiên, không phải rừng nào cũng giữ được đất, cũng giảm lũ lụt, chống sạt lở.
Thực tế, nhiều khu rừng ở Thái Nguyên còn làm tăng nguy cơ lũ lụt, xói mòn và sạt lở đất. Điển hình nhất là các khu rừng sản xuất – ‘rừng’ trồng keo ngắn hạn.
‘Trồng rừng’ nhưng không phải rừng?
Đi dọc các sườn đồi núi phía Bắc Thái Nguyên, bạn sẽ thấy phần lớn đất đai được phủ xanh bởi rừng keo hoặc quế. Chúng là loại trồng ngắn hạn để khai thác gỗ – không có tác dụng nuôi dưỡng hệ sinh thái hay tạo thành rừng nhiệt đới giữ nước.
Đặc biệt là cây keo (tràm):
Bộ rễ nông vì trồng ngắn ngày, không giữ đất → sạt lở trầm trọng hơn.
Thảm thực vật dưới tán cây không còn → không giữ được nước → chảy thẳng xuống đồng bằng.
Nhìn xa thì thấy đồi núi xanh mướt, nhưng nhìn gần lại thấy phần nhiều lại là keo – loại cây công nghiệp không giúp ích gì trong việc bảo vệ triền đồi hết. Rừng keo không phải là rừng!
Hệ quả là... đồng bằng thành rốn lũ!
Dựa trên bản đồ lượng mưa của Thái Nguyên, ta có thể nhận ra, mưa không chỉ trút xuống ở vùng lòng chảo đồng bằng mà còn ở quanh triền đồi. Và đúng như suy đoán, “rừng” được trồng trên các đồi núi xung quanh vùng ngập của Thái Nguyên phần đông là rừng keo độc canh, do đó nước cứ mặc sức đổ về đồng bằng, mà không có gì giữ lại.
Điển hình như rừng phòng hộ Hồ núi Cốc, dù là rừng phòng hộ nhưng có 80% diện tích là rừng keo, hơn 10% diện tích là rừng tự nhiên tái sinh nghèo, diện tích còn lại là chè, cây ăn quả. Nhiều quả đồi trước đây là rừng tự nhiên, rừng phòng hộ cũng bị san phẳng, ủi xúc để mở đường trồng keo, vận chuyển gỗ để buôn bán hoặc xây khu nghỉ dưỡng, du lịch.

Phát triển trước…thoát nước sau!
Ngoài ra, chiến lược quy hoạch đô thị kiểu “phát triển trước, thoát nước sau” của Thái Nguyên cũng là một trong những nguyên do làm lũ lụt trầm trọng hơn trong đợt bão vừa rồi.
Các khu vực ngập nặng và sâu nhất ở Thái Nguyên chủ yếu là quanh sông Cầu. Sông Cầu là một trong những con sông lớn nhất và dài nhất chảy xuyên qua các tỉnh miền Bắc Việt Nam, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết lũ, thoát nước của toàn khu vực.
Sông Cầu chảy qua Thái Nguyên chia làm hai bờ, bờ tả và bờ hữu (trái và phải). Bên tả trước đây là vùng canh tác gồm đồng ruộng và hoa, hạn chế quy hoạch đô thị. Do vậy, bờ tả không có đê, để nước tràn vào tự nhiên bồi đắp phù sa cho nông nghiệp và phân lũ cho bên hữu – vùng đô thị đông đúc.
Nhưng kể từ khi đập thuỷ điện, hồ thuỷ điện và thuỷ lợi được xây dựng ở thượng nguồn sông Cầu (Bắc Kạn), lưu lượng nước sông cũng thay đổi bất thường, lúc mùa khô thì cạn đáy, lúc mưa thì lũ trầm trọng thêm do các hồ xả tràn. Quan trọng hơn, các hồ này đã làm cho Thái Nguyên suốt chưa một lần có lũ lụt trong suốt 40 năm.
Chính việc chủ quan về khả năng điều tiết lũ của các hồ chứa ở thượng nguồn, Thái Nguyên đã bắt đầu cho phát triển đô thị cả phía bên tả – bên phân lũ. Sau 30 năm, tỷ lệ đô thị hoá của Thái Nguyên (cũ) tăng từ 20% lên 41%
Cộng thêm việc dòng chảy của sông Cầu nhiều năm qua đã bị các hồ chứa làm thay đổi, kéo theo đặc tính như độ rộng hoặc sâu của lòng sông thay đổi bất thường, làm hiệu quả thoát lũ giảm đi.
Hậu quả là, sau cơn bão Matmo (số 11), vì không còn nơi nào có khả năng điều tiết lũ, gần như toàn bộ hai bên bờ sông Cầu tại Thái Nguyên đã ngập kỷ lục, nhiều nơi lũ đã vượt tầng 1 ở nhiều nhà dân, có nơi còn lút cả mái ngói.
Nước đến cổ mới nhảy?
Mặt khác, mưa xuống chủ yếu ở lưu vực sông Cầu, nên các hồ thuỷ lợi ở thượng nguồn cũng không đóng vai trò gì trong việc điều tiết lũ. Do đó, việc bảo vệ các khu dân cư hoàn toàn phụ thuộc vào hệ thống đê điều ở bờ sông Cầu.
Tuy nhiên, theo đánh giá của chuyên gia Thuỷ lực Môi trường Vũ Thanh Ca, hệ thống đê hạ lưu sông Cầu vẫn còn yếu. Các tuyến đê được đầu tư kiên cố bằng bê tông chỉ ở các khu vực xung yếu, phần lớn còn lại là đê đất, chỉ chờ có lũ tràn lên rồi dùng đê bao gia cố, chắp vá lại.
Hạ tầng, đê điều còn dang dở...
Từ năm 2016 đến nay, dự án xây dựng cấp bách hệ thống chống lũ, lụt sông Cầu và hoàn thiện hạ tầng đô thị hai bên bờ sông của tỉnh Thái Nguyên vẫn chỉ dừng lại ở vài bức tường kè dang dở và cọc sắt lỗ chỗ. Dự án đã bị UBND tỉnh dừng thi công vì “chưa đủ nguồn lực, cần trung ương hỗ trợ.”
Tháng 7.2021 Thanh tra Chính phủ phát hiện nhiều sai phạm về công tác quản lý, sử dụng đất đai, đầu tư xây dựng và khai thác tài nguyên, khoáng sản của tỉnh Thái Nguyên, trong đó có Dự án Sông Cầu. Dự án có tổng đầu tư hơn 18.221 tỉ đồng đã bị hoãn từ năm 2019 và đến nay những dấu tích còn lại của đại dự án này chỉ là sự hoang tàn, xuống cấp.
Dù đã trải qua cơn bão Yagi lịch sử năm ngoái, nhưng cơ sở hạ tầng, đường xá, công trình chống ngập lụt và công nghệ cảnh báo sớm thiên tai của địa phương vẫn đang trong tình trạng “chờ lập kế hoạch hoặc tạm hoãn.”
Vì những lý do này mà trong trận bão vừa rồi, người dân Thái Nguyên không được chuẩn bị gì trước khi lũ tới, lượng mưa dự báo không chính xác nên người dân không kịp sơ tán, không kịp ứng phó khi nước tràn vào nhà. Chỉ có chờ được ứng cứu.
Chung quy, Thái Nguyên chỉ là một ví dụ của Việt Nam để ta thấy được việc đổ lỗi cho thiên nhiên thực chất là để che giấu và bao biện cho những hệ luỵ tàn khốc mà các chính sách “ưu tiên phát triển kinh tế” đã gây ra cho môi trường và người dân.
Tạm kết bằng những dòng trăn trở…
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng nặng nề ở Nam toàn cầu, chúng ta cần phải thẳng thắn đánh giá lại những gì mà các doanh nghiệp, tập đoàn, và cả chúng ta đang làm với đất rừng, với hệ sinh thái, với sông suối, núi đồi và cả với con người.
Tuy nhiên, cho đến hiện tại, vẫn có nhiều người không tin rằng chính con người đã làm cho đại dương nóng lên hằng năm, chính các hoạt động khai thác tàn nhẫn mặc môi trường ngoi ngóp, chính các tỷ phú giới tư bản đã làm cho người dân ở các nước Nam bán cầu như Philippines, Việt Nam, Sri Lanka mất nhà cửa, ruộng vườn, thậm chí cả tính mạng.
Các tiêu chuẩn phát triển của thực dân - tư bản đang giết chết chúng ta!
Việt Nam được đánh giá là một trong những nơi bị ảnh hưởng lớn nhất bởi biến đổi khí hậu, nhưng có lẽ tất cả vẫn chưa đủ để chúng ta để tâm đến.
Hiện tại, rừng nguyên sinh – những khu sinh quyển và hệ sinh thái dồi dào của Việt Nam chỉ còn 0,25% tổng diện tích rừng, 75% rặn san hô đang có nguy cơ bị huỷ diệt, 70% sông hồ đã bị ô nhiễm, không khí đầy bụi mịn, mưa bão ngày càng khắc nghiệt, nắng hạn ngày càng dài ra.
Trong tương lai gần, nếu không nhìn nhận lại nghiêm túc các hoạt động công nghiệp, sản xuất ồ ạt, phá rừng, lấp biển, hy sinh môi trường để chạy theo các tiêu chuẩn phát triển của thực dân, nhân dân Việt Nam sẽ là người đầu tiên hứng chịu hệ quả của suy thoái khí hậu và môi trường toàn cầu.
Tương lai của chúng ta tiệm cận với những người di cư vì thảm hoạ thiên nhiên hơn là các tỷ phú ngồi trên du thuyền triệu đô và nói về tài chính.














